Phân đạm thường là khoản chi lớn trong canh tác lúa, nhưng không phải lượng đạm nào bón xuống cũng được cây lúa dùng hết. Phần tổng quan của một bài báo trên Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ dẫn các nghiên cứu cho thấy cây lúa chỉ hấp thu khoảng dưới 40% lượng đạm bón vào, và phần lớn mất đi do bốc thoát amoniac (NH₃). Vậy khi bổ sung Neb26 vào phân urê và giảm lượng đạm, năng suất lúa có giữ được không? Đây là một trong số ít nghiên cứu độc lập tại Việt Nam trả lời câu hỏi đó ngay trên đồng ruộng.
Nghiên cứu được làm ở đâu, như thế nào?
Bài báo: “Ảnh hưởng của việc giảm phân đạm bổ sung chế phẩm nBPT, Neb26 đến sinh trưởng, năng suất lúa và hiệu quả sử dụng đạm trên đất lúa Tam Bình - Vĩnh Long”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, tập 51, phần B (2017), trang 39–45, DOI 10.22144/ctu.jvn.2017.077.
Địa điểm, thời gian: ruộng lúa tại xã Mỹ Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, vụ Thu Đông từ tháng 6 đến tháng 11/2014.
Giống lúa: OM5451, thời gian sinh trưởng 90–95 ngày.
Nền phân của vùng: công thức 90N – 60P₂O₅ – 30K₂O, chia 3 lần bón vào 10, 20 và 45 ngày sau sạ.
Bố trí: khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 5 nghiệm thức, 4 lần lặp lại, mỗi ô 35 m².
Năm công thức được so sánh
Lân và kali giữ nguyên ở tất cả các ô; chỉ lượng đạm và dạng phân đạm thay đổi:
0N: không bón đạm.
100%N: bón đủ lượng đạm theo nền phân của vùng.
75%N + nBPT: giảm 25% đạm, dùng phân urê có bổ sung nBPT.
75%N + Neb26: giảm 25% đạm, dùng phân urê có bổ sung Neb26.
50%N + Neb26: giảm 50% đạm, dùng phân urê có bổ sung Neb26.
Kết quả chính
Năng suất: không khác biệt giữa các mức đạm
Nghiệm thức | Năng suất (tấn/ha) | Hiệu quả nông học (kg thóc/kg N bón) |
|---|---|---|
0N | 2,9 | – |
100%N | 5,3 | 26,3 |
75%N + nBPT | 5,4 | 33,5 |
75%N + Neb26 | 5,3 | 31,3 |
50%N + Neb26 | 5,0 | 42,6 |
Các nghiệm thức có bón đạm cho năng suất khoảng 5,0–5,4 tấn/ha và không khác biệt có ý nghĩa thống kê. Số bông trên m² và tỷ lệ hạt chắc cũng không khác biệt; khối lượng 1.000 hạt và số hạt trên bông không khác biệt giữa các nghiệm thức có bón đạm.
Sinh trưởng: cây thấp hơn ở mức giảm 50% đạm
Số chồi lúc thu hoạch không khác biệt giữa các nghiệm thức. Chỉ số diệp lục (SPAD) đo ở 20 và 30 ngày sau sạ cũng tương đương giữa các nghiệm thức có bón đạm. Riêng chiều cao cây lúc thu hoạch ở mức 50%N + Neb26 thấp hơn: 74,7 cm so với 80,7 cm ở mức 100%N.
Hiệu quả sử dụng đạm: cao hơn khi giảm đạm có bổ sung Neb26
Tỷ lệ đạm cây hấp thu từ phân bón đạt 72,6% ở mức 75%N + Neb26 và 74,3% ở mức 50%N + Neb26, so với 57,4% ở mức 100%N. Hiệu quả nông học, tức số kg thóc tăng thêm trên mỗi kg đạm bón, cao nhất ở mức 50%N + Neb26 (42,6 kg) và cao hơn có ý nghĩa so với mức 100%N (26,3 kg).

Đọc kết quả thế nào cho đúng?
Kết quả này đáng khích lệ, nhưng cần hiểu đúng phạm vi của nó:
Đây là một thí nghiệm, trên một chân đất phù sa, với một giống lúa, trong một vụ.
Thí nghiệm không có công thức giảm đạm mà không bổ sung Neb26. Chính nhóm tác giả đề xuất cần so sánh thêm các mức giảm đạm có và không có bổ sung Neb26, nBPT để thấy rõ hiệu quả của việc bổ sung.
Ở mức 50% đạm, năng suất thấp hơn một chút về số tuyệt đối (5,0 so với 5,3 tấn/ha) dù không khác biệt về thống kê, và cây lúa thấp hơn lúc thu hoạch.
Vì vậy, bà con không nên tự ý cắt giảm mạnh lượng đạm trên ruộng nhà chỉ dựa vào một thí nghiệm. Hãy bón theo hướng dẫn trên bao bì và trao đổi với cán bộ kỹ thuật trước khi điều chỉnh.
NEB-26 Hoa Kỳ trong phân bón Minh Tâm
NEB-26 là sản phẩm từ công nghệ dịch tiết rễ cây, sản xuất tại Hoa Kỳ, do Minh Tâm nhập khẩu và phân phối tại Việt Nam. Các loại phân bón mang nhãn Minh Tâm đều được bổ sung NEB-26 Hoa Kỳ, trên bao ghi “+ NEB 26 Hoa Kỳ”. Theo nhà sản xuất, dịch tiết rễ không phải là vi sinh vật sống, vì vậy NEB-26 không phải là chế phẩm vi sinh.
Liều lượng bón cho từng cây trồng được in trên bao và trình bày tại trang của từng sản phẩm. Bài viết này chỉ tóm tắt kết quả đã công bố; Minh Tâm không tham gia thực hiện nghiên cứu.
Tìm hiểu thêm về NEB-26 Hoa Kỳ, Đạm Urê Minh Tâm và hướng dẫn bón phân cho lúa. Cần tư vấn cho ruộng của mình, bà con vui lòng để lại thông tin ở trang Liên hệ.
Nguồn: Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, tập 51, phần B (2017), tr. 39–45, DOI 10.22144/ctu.jvn.2017.077 (xem bài báo).




